Đời thứ 1

  PHẠM QUANG TÁM

Cụ Phạm Quang Tám được nhân dân địa phương gọi cụ là QUAN HỮU MẠC hoặc cụ LANG. Lúc sinh thời cụ làm Quan hữu mạc trấn ải tại Thanh Hóa. Từ thời cụ trở về trước, các cụ phụng sự khi Lê Lợi khởi nghĩa tức Thái tổ của Hòang đế đến hết triều Lê.

Lúc làm quan, cụ rất trung trực, thanh liêm. Khi đến tuổi về hưu, cụ nghỉ ngơi tại quê nhà. Cụ làm nghề thuốc (thày lang) để cứu giúp dân nghèo và dạy học để truyền bá tư tưởng và văn hóa cho hậu thế.

Cụ sinh được một người con trai tên PHẠM QUANG THẮM làm đến Tri huyện

 

 

Đời thứ 2

 

PHẠM QUANG THẮM

Cụ Phạm Quang Thắm, thường gọi là cụ Tú, cụ Huyện Dần, cụ Đồ Mai

Học vị cũa cụ đậu Tú tài, được triều đình bổ nhiệm Tri huyện tại huyện Dần tỉnh Nam Định. KHi giặc Pháp xâm chiếm nước ta, cụ từ quan về nhà làm nghề dạy học (thày đồ) để sinh sống.

Truyền thuyết kể lại rằng : "Đa số học trò của cụ sau này học vị và địa vị tương đối cao, có tư tưởng bài ngọai. Khi cụ mất, có một người học trò cũ làm thày địa lý bên tàu về chịu tang thày và nói : "xin gia đình cho phép con mai táng thày ở gò đất cao ở đường con ngựa. Vài năm sau mộ thầy kết con sẽ chết. Biết vậy nhưng con rất vinh dự được đền ơn trả nghĩa thày" Quả nhiên lời nói ấy rất hiệu nghiệm

Cụ bà người làng Dải Đông

Hai cụ hạ sinh được năm người con, ba trai và hai gái

Trường nam PHẠM QUANG TIẾN
Thứ nam PHẠM QUANG HIỂN và PHẠM QUANG DIỄN
Trưởng nữ PHẠM THỊ ... lấy chồng về Khả Lôi, thường gọi là cụ Hương Bảo, con cụ Hương Tuần
Thứ nữ PHẠM THỊ ... lấy chồng về làng Đền Thường, gọi là cụ Đỗ Định, con cụ Nhiêu Tâm.

 

 

Đời thứ 3

 

PHẠM QUANG TIẾN

Cụ Phạm Quang Tiến thường gọi là cụ Giáp

Cụ có bốn bà cùng lúc nhưng năm cụ chung sống với nhau theo lễ giáo rất hòa thuận êm ấm. Mỗi cụ bà có một dinh cơ riêng đúng theo qui định công bằng. Con cháu đón rước mỗi tuần cụ ông đến ở chung với một bà. Theo tôn thống xã hội phong kiến, thì con của bà lớn tuy ít tuổi hơn nhưng vẫn được làm anh làm chị.

Mỗi khi có việc ra khỏi nhà thì cụ đi bằng kiệu hoặc cáng. Bên cạnh cụ luôn có tráp đựng sách vở, bút nghiên, khay trầu, điếu hút thuốc lào v.v...Đặc biệt cụ có chiếc chuông tay nhỏ, mỗi khi cần việc gì thì cụ rung chuông để gia nhân đến phục dịch.

Bà cụ Cả tên là LIÊN, quê ở trong Đước. Cụ sinh hạ được năm người con, hai trai và ba gái

Trưởng nữ PHẠM THỊ ĐÀO, thường gọi là cụ Cửu Lãng quê ở Hàn Thông, mất ngày 27 tháng chạp năm 1958
Trưởng nam PHẠM TIẾN THẮNG,  thường gọi là cụ Chánh Thắng
Các con thứ PHẠM THỊ VÓC, PHẠM THỊ NGÀ và PHẠM TIẾN NHIỄU (vì mất sớm nên không nhớ ngày mất)

Bà cụ Hai tên là TRẦN THỊ GẤM, quê cụ ở làng Kho. Cụ sinh hạ được năm người con, bốn trai và một gái

Trưởng nam PHẠM TIẾN QUY, chết lúc nhỏ
Thứ nam PHẠM TIẾN PHÚC, sinh năm 1905, mất ngày 26 tháng 6 năm Bính Ngọ (1966) tại quê nhà
Phạm Thị Nụ, lấy chồng và đi khai hoang mất tại Thái Nguyên năm 1971
Phạm Tiến Đại chết lúc nhỏ
Phạm Tiến Lộc, vào Saigon từ năm 1940, mất ngày 1 tháng 9 năm Mậu Thìn (11-10-1988)

Bà cụ Ba tên là TRẦN THỊ TĨNH, thường gọi là cụ Hậu hoặc cụ Thành. Cụ sinh được một người con gái

PHẠM THỊ THÀNH, lấy chồng tên là Liễu đi làm ăn xa và không nghe tin tức nữa

Bà cụ Tư tên là TRẦN THỊ SẺ, Cụ sinh hạ được bốn người con, hai trai và hai gái

Trưởng nam PHẠM TIẾN PHƯỢNG dẫn gia đình đi làm ăn xa bặt tin từ năm 1940
PHẠM TIẾN TÀI, chết lúc còn nhỏ
PHẠM THỊ LOAN, lấy chồng quê làng Hạ, thường gọi là bà Tông Kiến, mất năm 1985
PHẠM THỊ KHIÊU, lấy chú Hương Vinh người cùng làng, khi chồng chết bà vào Nho quan đi bước nữa. Bà bị con trai chồng giết để lấy của

PHẠM QUANG HIỂN

Cụ Phạm Quang Hiển thường gọi là cụ ??? Hiển

Cụ có tám người con, hai trai và sáu gái

Trưởng nam PHẠM XUÂN THƯỞNG
Thứ nam PHẠM XUÂN PHƯỚC
PHẠM THỊ BẰNG thường gọi là bà Thủy, lấy chồng tại quê nhà
Các người con gái khác không nhớ tên, chỉ biết rằng một người lấy chồng về làng Nến, ba người lấy chồng về làng Họ. Trong những người về làng Họ, có một người thường gọi là bà Ba ích, khi chồng mất dẫn con gái ra Hải Dương lập nghiệp

PHẠM QUANG DIỄN

Cụ Phạm Quang Diễn thường gọi là cụ Phó Huân

Cụ bà tên là TRẦN THỊ HẠNH, quê ở làng Sở. Cụ sinh được năm người con, ba trai và hai gái

Trưởng nam PHẠM QUANG HUÂN, thường gọi là cụ Chánh Huân
Thứ nam PHẠM QUANG PHO, thường gọi là cụ Cai Pho
Thứ nam PHẠM QUANG PHÔ, thường gọi là cụ Ba Đen
Trưởng nữ PHẠM THỊ TƯ,  lấy chồng tại quê nhà, và thường gọi là cụ Quỹ Lan
Thứ nữ PHẠM THỊ NIÊM, lấy chòng về làng Họ thường gọi là cụ Giáo Dư

 

 

Đời thứ 4

 

PHẠM TIẾN THẮNG

Cụ Phạm Tiến Thắng thường gọi là cụ Chánh Thắng vì cụ làm Chánh Hội. Cụ sinh năm 1897, mất ngày 22 tháng 7 năm 1952, nhằm ngày 12-6 năm Quý Tỵ. Năm 1942, cụ chuyển vào Saigon sinh sống bằng nghề bánh cuốn và đậu phụ.

Cụ có bốn bà

Cụ bà thứ nhất tên NGUYỄN THỊ NGHỆ, sinh năm 1902, mất năm 1920, quê làng Sùng Văn. Cụ về nhà chồng không được bao lâu thì mất sớm. Các cụ thương tình gả tiếp em gái cụ Nghệ là cụ Ước cho cụ Chánh

Bà cụ Cả tên là NGUYỄN THỊ ƯỚC, sinh năm 1904 thuộc giòng dõi quý tộc. Cụ rất phúc hậu, hiền lành nên được mọi người kính nể quý mến. Hiềm vì không có con, cụ đề nghị với gia tộc cưới vợ bé cho chồng. Cụ bà mất lúc 10g50 ngày 21-12-1986 nhằm ngày 21-11 năm Bính Dần

Bà cụ Hai tên là TRẦN THỊ THỌ, sinh năm 1905, quê làng Dải. Cụ hạ sinh được bốn người con, một trai và ba gái

Trưởng nam PHẠM TIẾN TIỆP
Trưởng nữ PHẠM THỊ MỘNG VÂN, sinh năm 1932, theo gia đình vào Saigon năm 1942. Bà lấy chồng quê ở Hà nội tên là NGUYỄN VĂN MINH, sinh năm 1930 là đồng chí họat động cách mạng chung với bà
Thứ nữ PHẠM THỊ MỘNG NGA, sinh năm 1936, theo gia đình vào Saigon năm 1947. Chồng bà là PHẠM VĂN XỨNG, quê làng Sùng Văn, vào Saigon năm 1936 làm nghể buôn bán đậu phụ
Thứ nữ PHẠM THỊ MỘNG HẰNG, mất sớm

Bà cụ Ba tên ĐẶNG THỊ THUẬN, sinh năm 1911, quê Mai Động, cùng vào Saigon với cụ ông năm 1942.

PHẠM TIẾN PHÚC

Cụ Phạm

 

Cập nhật đến ngày 25-01-2009

2155