|
Bản kiến nghị chấn hưng, cải
cách, hiện đại hóa giáo dục đã được một nhóm gồm 23 nhà giáo, nhà
khoa học, nhà văn hóa... trong và ngoài nước tâm huyết với ngành
mà đứng đầu là Giáo sư Hoàng Tụy xây dựng và công
bố
Chưa bao giờ tình hình giáo dục trở nên bức xúc như hiện nay. Về
cả ba phương diện dân trí, nhân lực và nhân tài,
những bất cập đều quá rõ:
* Dân trí thấp, biểu hiện trên lối sống và suy nghĩ, tập quán,
tác phong, tư tưởng, ý thức... Đạo đức bị xói mòn, thói gian dối,
thiếu trung thực đang tác động nặng nề đến mọi mặt của đời sống
xã hội.
* Nhân lực không đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế. Yếu kiến
thức, kém kỹ năng thực hành, ít khả năng xoay xở, thiếu đầu óc
tưởng tượng và năng lực sáng tạo, đó là những đặc trưng chất
lượng lao động khiến sức cạnh tranh rất thấp.
* Nhân tài tuy không đến nỗi quá thiếu nhưng phát hiện và bồi
dưỡng kém, thiếu cơ hội và điều kiện phát triển. Chất xám bị
lãng phí nghiêm trọng dưới nhiều hình thức khác nhau.
Đương nhiên đây không chỉ là vấn đề của giáo dục mà là vấn đề
của toàn xã hội, nhưng trong đó trách nhiệm và vai trò của giáo
dục rất lớn.
Vì vậy con đường ra khỏi những
khó khăn là xây dựng lại giáo dục từ gốc để tiến tới một nền
giáo dục phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc và xu thế
chung của thế giới, tạo điều kiện cho cuộc hội nhập thành công.
Đào tạo con người trung thực, sáng tạo
1. Để xây dựng lại giáo dục từ gốc, trước hết
cần thay đổi tư duy giáo dục, xác định lại quan niệm về mục tiêu,
yêu cầu đào tạo và chức năng của nhà trường, từ đó mới thấy rõ
cần thay đổi cung cách dạy và học, thay đổi nội dung, phương
pháp, tổ chức quản lý giáo dục như thế nào để đạt được mục tiêu
đó. Nên rà soát lại để dứt khoát từ bỏ đào tạo những mẫu
người chỉ biết ngoan ngoãn chấp hành, quen được dẫn dắt, bao
cấp cả về tư duy và hành động hơn là biết suy nghĩ độc lập và tự
chịu trách nhiệm.
Cần coi trọng rèn luyện các phẩm chất đạo đức cơ bản của con
người hiện đại có cá tính nhưng bao dung, biết giao tiếp và hợp
tác, biết làm việc có hiệu quả, có tư duy cởi mở với cái mới,
thích dấn thân, không ngại đương đầu với thách thức, khó khăn,
sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm vì mục đích lớn, và nhất là trung
thực và có đầu óc sáng tạo, là những đức tính tối cần thiết
trong đời sống xã hội hiện đại. Đồng thời cần quan tâm đến giáo
dục thẩm mỹ, giáo dục cảm xúc, đào tạo toàn diện con người có
tâm hồn và thể chất khỏe mạnh.
2. Từ quan niệm bao quát nói trên phải xem xét
lại toàn bộ tổ chức quá trình giáo dục, bao gồm cả nội dung
chương trình, phương pháp từng cấp học sao cho phù hợp với mục
tiêu chung. Chẳng hạn phải giảm bớt đáng kể giờ lên lớp nghe
giảng, tăng giờ thực hành, giờ học theo phương pháp tương tác,
dành thì giờ cho việc tự học, tùy lứa tuổi tập tham khảo sách
báo, tư liệu, thảo luận xêmina, thuyết trình, tham luận, viết
tiểu luận, làm dự án...
Ngay từ nhỏ học sinh cần tập dần để biết suy nghĩ, ham thích tìm
tòi, khám phá, sáng tạo từ dễ đến khó, tập phát hiện và giải
quyết vấn đề, hạn chế học thuộc lòng, chống nhồi nhét kiến thức
máy móc tuy không xem nhẹ rèn luyện trí nhớ. Giảm, bỏ hoặc thay
đổi hẳn nội dung và phương pháp dạy những điều có tinh chất kinh
kệ để tăng các kiến thức thiết thực, hoặc đòi hỏi vận dụng tư
duy nhiều hơn.
Đảm bảo công bằng, dân chủ trong giáo dục
3. Công bằng, dân chủ trong giáo dục không chỉ
là một nguyên tắc đạo đức mà còn là điều kiện để bảo đảm sự phát
triển của xã hội. Chỉ khi có công bằng, dân chủ trong giáo dục,
chỉ khi mọi người, dù giàu nghèo, sang hèn, đều có cơ hội học
tập và thành đạt ngang nhau thì tiềm năng trí tuệ của xã hội mới
được khai thác hết. Hiện nay ở nước ta con em các tỉnh miền núi,
các vùng nông thôn hay con em nhà nghèo ở thành thị đi học đã
khó mà học lên cao càng khó hơn.
Với chế độ học tập buộc phải học thêm ngoài giờ rất nhiều, phải
đóng góp vô vàn khoản tốn kém ngoài học phí, hằng năm phải mua
sắm sách giáo khoa mới, với chế độ đánh giá và thi cử tốn kém
như hiện nay, nhà trường của ta đã vô tình gạt ra ngoài cả một
lớp trẻ thiếu may mắn vì trót sinh ra trong những gia đình nghèo
hoặc không ở thành phố.
4. Tùy theo cá tính, mỗi con người có những sở
thích, sở trường, sở đoản riêng, sự đa dạng ấy làm nên cuộc sống
phong phú trong xã hội hiện đại và là mảnh đất để nảy nở tài
năng sáng tạo. Cho nên giáo dục phải phóng khoáng, không hạn chế
hay kìm hãm, mà trái lại phải tôn trọng, phát triển cá tính, và
muốn thế không nên gò bó mọi người trong một kiểu đào tạo như
nhau, một hướng học vấn như nhau, mà phải mở ra nhiều con đường,
nhiều hướng, tạo nhiều cơ hội lựa chọn cho thế hệ trẻ phát triển
tài năng, đồng thời cho phép họ dễ dàng chuyển sang con đường
khác khi thấy sự lựa chọn của mình chưa phù hợp.
Đó là tư tưởng chỉ đạo để giải quyết vấn đề phân ban ở các năm
cuối trung học phổ thông, phát triển nhiều loại hình đại học và
cao đẳng đáp ứng nhu cầu đa dạng của tuổi trẻ, đồng thời bảo đảm
sự liên thông tối đa giữa các cấp học và các loại trường học
khác nhau để không ai bị lâm vào ngõ cụt trên con đường học vấn.
Mở rộng cửa trường, chú trọng tài năng
5. Xã hội văn minh đang tiến đến chỗ trình độ
học thức hai năm đầu của đại học trở thành cần thiết cho mọi
người, giống như trình độ tiểu học cách đây một thế kỷ. Vì vậy,
xu thế tất yếu là phải tiến tới mở cửa đại học cho số đông, rồi
cho đại bộ phận dân chúng. Điều này đòi hỏi những thay đổi lớn
trong quan niệm về sứ mạng, nhiệm vụ cũng như tổ chức, quản lý
giáo dục đại học. Đặc biệt, với trình độ phát triển hiện nay và
với cơ cấu nhu cầu lao động trong thời gian tới, cần chú ý phát
triển loại hình đại học ngắn hạn hai năm (về kỹ thuật hay các
nghiệp vụ du lịch, kế toán, ngoại ngữ...).
6. Trong khi nâng cao dân trí, mở rộng cửa nhà
trường, kể cả đại học, cho đông đảo người dân, thì giáo dục
không thể coi nhẹ nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nhân tài. Trái
lại, phải rất chú trọng tài năng, khắc phục bình quân và trung
bình chủ nghĩa vốn là nhược điểm thường thấy ở các nước nghèo
như ta. Hệ thống giáo dục, đặc biệt là đại học, phải có biện
pháp hữu hiệu để đào tạo nhiều người tài, hơn nữa xã hội phải
được tổ chức như thế nào để tài năng không tàn lụi sớm mà được
khuyến khích phát triển ngày càng cao. Kinh nghiệm các nước phát
triển cho thấy giáo dục càng công bằng, dân chủ, số người được
học càng đông thì trong số đông đó càng xuất hiện nhiều người
tài xuất sắc.
7. Trong thời đại khoa học và công nghệ tiến
nhanh như vũ bão, không ai có thể thỏa mãn với vốn kiến thức đã
có của mình. Mọi người đều cần học tập, học thường xuyên, học
suốt đời, cho nên giáo dục thường xuyên phải không ngừng mở rộng
cả về phạm vi, qui mô, hình thức, đối tượng và sử dụng những
phương tiện kỹ thuật tân tiến nhất: máy tính, Internet, đa
truyền thông không dây..., để cho ai, ở đâu và bất cứ lúc nào
cũng có thể học được dễ dàng và hiệu quả.
Để thực hiện xã hội học tập theo quan niệm đó, cần gây dựng và
duy trì trong mọi tầng lớp và ở mọi môi trường xã hội một tinh
thần hiếu học mới, lòng ham chuộng tri thức, thói quen tự học,
tự hoàn thiện hiểu biết và nhân cách để sống và làm việc tốt
hơn.
8. Đặc điểm quan trọng của giáo dục hiện đại là
sử dụng rộng rãi Internet, công nghệ thông tin trong mọi khâu
giáo dục, từ nội dung cho đến phương pháp, tổ chức. Đặc biệt
phải biết tận dụng khả năng công nghệ thông tin, phát triển mạnh
giáo dục từ xa để đáp ứng một cách tiết kiệm, linh hoạt và hữu
hiệu nhu cầu học tập ngay tại nơi lao động và sinh hoạt của đông
đảo người dân.
Cải tổ hệ thống và quản lý giáo dục
9. Dựa trên các nguyên tắc vừa nêu cần cải tổ
toàn bộ hệ thống giáo dục. Về bậc tiểu học và THCS, trong nước
đã có hệ thống thực nghiệm giáo dục được nghiên cứu từ hơn 20
năm nay và đã được áp dụng trên nhiều vùng đất nước, cần có sự
thẩm định và đánh giá khách quan, nghiêm túc, để nếu cơ bản nó
đáp ứng các yêu cầu nêu trên thì có thể mở rộng thực hiện trong
cả nước, coi đó cũng là một nét đặc thù của giáo dục VN.
Về bậc THPT cần nghiên cứu lại việc phân ban theo tinh thần tiến
tới tạo nhiều cơ hội lựa chọn cho thế hệ trẻ trên cơ sở bảo đảm
một mặt bằng văn hóa chung thích hợp, đồng thời tổ chức đủ mềm
dẻo để cho phép điều chỉnh những sự lựa chọn chưa phù hợp. Về
đại học và kỹ thuật trung cấp, hiện nay cả thế giới đều hướng
tới xây dựng một hệ thống giáo dục tương đồng với nhau về cấu
trúc và cả nội dung đào tạo để thuận tiện cho việc hợp tác và
trao đổi quốc tế (như tú tài + ba năm cho chương trình cử nhân,
tú tài + năm năm cho chương trình thạc sĩ, kỹ sư; tú tài + tám
năm cho chương trình tiến sĩ). Ta cần sớm chủ động hội nhập xu
thế chung đó.
10. Cuối cùng, muốn cải cách thành công phải
cải tổ quản lý giáo dục. Trước hết cần có sự chuyển biến mạnh mẽ
ngay trong bộ máy lãnh đạo và quản lý về quan điểm giáo dục như
đã nêu trên, trên cơ sở đó thay đổi, cải tiến tổ chức, phương
pháp quản lý nhằm phát huy sáng kiến chủ động của các cấp, từng
bước khắc phục bệnh tập trung quan liêu. Cần cải tổ hội đồng
giáo dục quốc gia thành một hội đồng thật sự có năng lực tư vấn
cao ở tầm chiến lược, tăng cường bộ máy thanh tra đi đôi với mở
rộng quyền tự chủ, trong khuôn khổ qui định, cho các cơ sở giáo
dục, đặc biệt là các đại học lớn, về mọi vấn đề thuộc phạm vi
chương trình, tổ chức, kế hoạch giảng dạy, nghiên cứu khoa học
và các hoạt động khác.
Tiến tới chấm dứt tình trạng ngăn cách giữa các đại học và các
cơ sở nghiên cứu khoa học, công nghệ. Hệ thống quản lý giáo dục
cần được cải tổ thành mạng lưới, vận hành theo cơ chế mạng, tận
dụng các tri thức khoa học và phương tiện kỹ thuật về quản lý
mạng, để tăng hiệu quả quản lý, phù hợp với xu hướng và yêu cầu
phát triển của xã hội hiện đại.
Những việc cần làm ngay!
1. Nên bỏ các kỳ thi tốt nghiệp từng cấp học
(tiểu học, THCS, tú tài) mà thay vào đó thực hiện thi, kiểm tra
nghiêm túc thường xuyên, đều đặn, từng chặng, từng phần của từng
môn học, đến cuối cấp xét các kết quả học tập để đánh giá tổng
hợp và cho tốt nghiệp.
Chỉ giữ hình thức thi tốt nghiệp cuối cấp THPT cho những người
vì lý do này khác không có điều kiện theo học bình thường ở nhà
trường. Cần hiểu đây không phải là bỏ thi như một số người hiểu
nhầm, mà thi như thế nào để đạt hiệu quả thực chất, nghiêm túc
và tránh áp lực nặng nề không cần thiết, lại tốn kém và có hại
đối với tâm lý học sinh.
2. Dạy thêm, học thêm tràn lan là tệ nạn kéo
dài quá lâu, đã đến lúc không thể nhân nhượng thêm nữa mà cần
dứt khoát xóa bỏ. Cần xem đây là trách nhiệm của chính quyền và
đi đôi với giảm nhẹ áp lực thi cử, phải có giải pháp tiền lương
thỏa đáng để bảo đảm cho giáo viên có thể tập trung làm tốt
nhiệm vụ giảng dạy chính, khỏi lo kiếm sống hoặc tăng thu nhập
bằng việc dạy thêm, dẫn tới nhu cầu giả tạo buộc học sinh phải
học thêm lu bù.
Cần cương quyết cấm tăng tiết, tăng giờ lên lớp nghe giảng, rà
soát lại chương trình theo hướng giảm tải, đổi mới phương pháp
giảng dạy không chỉ bằng cải tiến cách giảng bài, mà còn cải
tiến cả tổ chức quá trình giảng dạy: tăng số giờ thực hành, dành
thời gian hướng dẫn học sinh tự học, tự đọc sách, tham khảo tài
liệu, tập thuyết trình, thảo luận, tham gia các hoạt động vui
chơi, thể thao, văn nghệ...
Mặt khác, phải bảo đảm cho bản thân giáo viên có thời gian và
điều kiện tự học và thực hiện các kế hoạch định kỳ bồi dưỡng
chuyên môn, nghiệp vụ giáo dục.
3. Từ nhiều năm nay sách giáo khoa chậm được
cải tiến về chất lượng nội dung, hình thức trình bày mà giá vẫn
cao đối với phần lớn gia đình có con em đi học, lại được sử dụng
rất lãng phí (hằng năm in sách mới). Nên học tập kinh nghiệm các
nước về cả tổ chức, phương pháp và kỹ thuật, đổi mới quan niệm
về biên soạn sách giáo khoa theo những quan điểm giáo dục hiện
đại, đổi mới quan niệm về xuất bản, sử dụng sách giáo khoa, tiến
đến sách giáo khoa không chỉ bảo đảm về chất lượng, nội dung mà
còn phải bền, chắc, hấp dẫn, hợp với lứa tuổi và ổn định trong
nhiều năm để có thể sử dụng sách cũ và chủ yếu cho học sinh thuê
sách để học.
Nhà nước không thu lãi trên sách giáo khoa, không coi việc xuất
bản sách giáo khoa là ngành kinh doanh, nhưng cần tạo ra cơ chế
khuyến khích các nhà giáo dục, nhà khoa học tích cực tham gia
công tác biên soạn.
Đại học: cần một “hoa tiêu” mới
1. Trước hết, cần cải cách mạnh mẽ việc thi cử
và đánh giá, chuyển toàn bộ việc học theo hệ thống tín chỉ; thi,
kiểm tra nghiêm túc từng chặng trong suốt khóa học, thay vì dồn
hết vào một kỳ thi tốt nghiệp nặng nề mà ít tác dụng. Về tuyển
sinh đại học và cao đẳng, nên bỏ kỳ thi hiện nay nặng nề, căng
thẳng, tốn kém mà hiệu quả thấp, để thay vào đó một kỳ thi nhẹ
nhàng chỉ nhằm mục đích sơ tuyển, để loại những học sinh chưa đủ
trình độ tối thiểu cần thiết theo học đại học. Sau đó, việc
tuyển chọn vào đại học nào do đại học ấy tự làm, chủ yếu dựa
trên hồ sơ học THPT và thẩm vấn hoặc thi nếu cần thiết.
2. Bằng thạc sĩ và tiến sĩ phải theo chuẩn mực
quốc tế, không thể tùy tiện, đào tạo cẩu thả, chạy theo số
lượng, mà phải lấy chất lượng, trình độ làm tiêu chí hàng đầu.
Vì vậy cần chỉnh đốn từ gốc, rà soát lại để hạn chế chặt chẽ số
đơn vị, ngành được phép đào tạo, đơn vị nào, ngành nào còn yếu
thì cương quyết dừng lại việc đào tạo trong nước để gửi ra đào
tạo ở nước ngoài và chuẩn bị thêm điều kiện. Tăng cường thanh
tra, kiểm tra, lập lại trật tự, kỷ cương, chống gian dối và cẩu
thả trong việc đào tạo và cấp bằng.
Đồng thời những cơ sở đại học nào được phép đào tạo cần có đủ
quyền chủ động từ việc tuyển nghiên cứu sinh, lựa chọn chương
trình, cử người hướng dẫn cho đến tổ chức phản biện, bảo vệ và
cấp bằng để có thể tự chịu trách nhiệm hoàn toàn trước xã hội về
chất lượng đào tạo.
3. Chấn chỉnh công tác chức danh Gíao Sư (GS),
Phó giáo Sư (PGS). Đây là một trong những khâu then chốt để bảo
đảm chất lượng cho đại học, nhưng trong một thời gian dài cho
đến nay ở nước ta đã thực hiện khá tùy tiện và còn quá nhiều bất
cập. Một trong những nguyên nhân đóng góp vào sự trì trệ kéo dài
của đại học chính là ở công tác này, thể hiện khá tập trung
những khuyết điểm về chính sách nhân tài.
Do đó để mở đường hiện đại hóa đại học, cần sớm chấn chỉnh công
tác chức danh GS, PGS, trước hết cải tổ “hội đồng chức danh GS”
thành một hội đồng không trực tiếp công nhận các chức danh mà
chỉ xét duyệt hằng năm, định kỳ để công nhận những người đủ tư
cách ứng cử vào các chức danh GS, PGS ở các đại học và viện
nghiên cứu. Hằng năm các đại học và viện nghiên cứu công bố nhu
cầu tuyển GS, PGS (với sự chấp thuận của cấp có thẩm quyền) để
cho bất cứ ai đã được công nhận “đủ tư cách” đều có thể dự
tuyển.
Còn việc xét tuyển được trả lại cho các hội đồng tuyển chọn của
từng đại học và viện nghiên cứu. Hội đồng này gồm một số chuyên
gia thuộc biên chế đơn vị đó và có thể thêm một số chuyên gia ở
ngoài. Quyết định của hội đồng được trình lên cấp trên có thẩm
quyền thông qua trước khi thực hiện.
4. Trình độ GS, PGS của ta nói chung khá
thấp so với quốc tế. Cả nước số GS đã được công nhận mới
chiếm tỉ lệ chưa tới 0,1%, số PGS chưa tới 5%, trong toàn bộ số
giảng viên đại học. Nếu kể cả những người thực tế có năng lực
nhưng chưa được công nhận GS, PGS do cách tuyển chọn chưa hợp
lý, đội ngũ giảng viên đại học vẫn rất yếu về trình độ và số
lượng, mà tuổi tác lại khá cao, đó là tình trạng không thể chấp
nhận được, cần có biện pháp cải thiện nhanh, nếu không sẽ di hại
qua nhiều thế hệ.
5. Đổi mới các trường sư phạm và chính sách đào
tạo giáo viên phổ thông. Cần nghiên cứu lại chủ trương xây dựng
những trường sư phạm trọng điểm, vì theo kinh nghiệm các nước,
chỉ giáo viên mẫu giáo, tiểu học mới cần được đào tạo kỹ về
nghiệp vụ sư phạm, còn giáo viên THCS và THPT trở lên thì trước
hết phải được đào tạo vững vàng về chuyên môn khoa học rồi mới
bổ túc kiến thức và kỹ năng sư phạm.
Do đó phải thay đổi cách đào tạo ở các trường sư phạm, chú trọng
nhiều hơn phần chuyên môn khoa học, đồng thời phải mở rộng đối
tượng tuyển dụng giáo viên phổ thông từ các cử nhân hay thạc sĩ,
sau một khóa bổ túc ngắn hạn về nghiệp vụ sư phạm. Các đại học
sư phạm nên dần dần chuyển thành đại học đa ngành, trong đó có
khoa sư phạm (giáo dục) chuyên lo về nghiệp vụ giảng dạy và khoa
học sư phạm.
6. Xây dựng mới một đại học đa ngành hiện đại,
làm “hoa tiêu” cho cải cách đại học sau này. Song song với những
biện pháp cấp bách kể trên, cần bắt tay xây dựng ngay một đại
học đa ngành thật hiện đại, theo chuẩn mực quốc tế và sánh kịp
các đại học tiên tiến nhất trong khu vực để làm hoa tiêu cho
toàn bộ công cuộc hiện đại hóa đại học.
Cần xây dựng hoàn toàn mới đại học này, nghĩa là không phải ghép
chung lại một số đại học đã có sẵn (theo kinh nghiệm không thành
công như đã làm cho tới nay), mà toàn bộ giảng viên và sinh viên
tuyển vào đều là mới. Lúc đầu không nhất thiết đủ hết mọi ngành
và qui mô có thể hạn chế trong số mấy trăm sinh viên, nhưng đại
học mới này phải được xây dựng theo đúng các chuẩn mực quốc tế
về mọi mặt: cơ sở vật chất thiết bị, điều kiện ăn ở, học tập của
sinh viên, phương pháp, nội dung chương trình, trình độ giảng
viên (lúc đầu một số ngành có thể mời giảng viên nước ngoài hoặc
Việt kiều), sinh viên lấy vào... Đại học mới này sẽ đào tạo theo
ba cấp học: cử nhân (tú tài + 3-4 năm), thạc sĩ, kỹ sư (tú tài +
5 năm), tiến sĩ (tú tài + 8 năm).
7. Tăng đầu tư cho đại học, đi đôi với chấn
chỉnh việc sử dụng đầu tư. Cần cải cách chế độ lương và phụ cấp,
bảo đảm cho giảng viên đại học một mức thu nhập phù hợp với năng
suất và trình độ từng người để họ có thể dồn tâm lực vào nhiệm
vụ chính trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học mà không phải lo
toan, xoay xở cho đời sống quá nhiều, tạo mọi điều kiện cho họ
có thể cập nhật tri thức theo kịp khoa học công nghệ thế giới và
khu vực.
Tăng học phí hợp lý phải đi đôi với tăng tích cực chất lượng đào
tạo, đồng thời có chính sách học bổng rõ ràng, thiết thực để
giúp đỡ hiệu quả người nghèo và những người trong diện cần nâng
đỡ.
Phát triển loại hình đại học hai năm
Thật ra còn một vấn đề rất cấp bách nữa chưa được đề cập đến
trong bản kiến nghị này là giáo dục trung học chuyên nghiệp, mà
sự yếu kém do thiếu quan tâm của chúng ta trong thời gian dài là
một trong các nguyên nhân chủ yếu khiến thanh niên không còn con
đường nào khác phải đổ xô vào đại học, làm trầm trọng thêm các
vấn đề phổ thông và đại học.
Lĩnh vực này cũng cần đầu tư thích đáng để hiện đại hóa thì mới
đáp ứng được các yêu cầu phát triển của đất nước trong những năm
tới. Đặc biệt, song song với mở rộng hệ thống các trường dạy
nghề, trường trung cấp kỹ thuật, cần tích cực phát triển loại
hình đại học hai năm như đã nói ở bài trước.
Hoàng tụy |