|
Tôi may mắn được tổ chức lễ cưới của mình ở quê vào những năm
đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước. Cưới ở quê mới thực sự là cưới.
Sự chuẩn bị của gia đình, họ hàng làm cho cô dâu chú rể mang cảm
giác lễ cưới của họ thật trọng đại và hạnh phúc của họ đáng kéo
dài trăm năm.
Một đám cưới ở quê
thường kéo dài đến ba ngày. Ngày dựng rạp, ngày cưới và ngày dỡ
rạp. Nhưng ngày có không khí nhất là ngày dựng rạp. Từ chiều hôm
trước, rạp đã được dựng lên. Người ta chặt tre dựng rạp và dựng
giàn để mâm cỗ. Và dù đói nghèo thì gia đình nào cưới con cũng
làm cỗ. Nhiều thì bảy tám chục mâm, ít cũng vài ba chục mâm.
Người khéo tay nhất trong làng được mời đến ghép đôi chim câu
hôn nhau và bên cạnh là chữ song hỷ. Có những đám cưới chim câu
béo ục ịch như gà mái ghẹ nhưng niềm vui thì cứ bất tận. Trên
chiếc hè rộng, các cụ bà chít khăn nâu, áo bông đen ngồi bổ cau
têm trầu. Bao nhiêu bình vôi lớn bé của hàng xóm đều được tập
trung về. Ở góc sân, các cô gái trẻ cọ rửa bát đĩa và đánh mâm
đồng. Các cô dùng trấu và tro bếp đánh cho những chiếc mâm đồng
sáng chói lên có thể soi gương được. Ngay từ chiều hôm trước,
khách đã đến chơi nườm nượp. Gia chủ mời khách ăn trầu, uống trà
và hút thuốc lá. Ngày đó, hầu như ai đến chơi cũng ăn một miếng
trầu vì vui. Trẻ con cũng có nhiều đứa ăn. Khi cười lợi đứa nào
cũng đỏ loét.
Khi trời sập tối
thì đàn ông bắt đầu mổ lợn làm cỗ cưới. Chiếc thủ lợn được cắt
rất cẩn thận. Thủ lợn được làm sạch sẽ nhất và luộc lên. Khi thủ
lợn chín, một người già dùng mảnh vải trắng, sạch lau thủ lợn
rất cẩn thận để mắt mũi nhất là hai cái tai lợn đều sạch sẽ.
Sáng sớm hôm sau, chõ xôi đầu tiên được đồ là chõ xôi gấc. Xôi
được dỡ ra mâm và đặt cái thủ lợn lên trên. Rồi một thanh niên
đội mâm xôi gấc thủ lợn và một thanh niên khác đội một mâm trầu,
cau và rượu vào đình làng làm lễ. Đêm ấy, khoảng hai ba giờ
sáng, khi lợn gà đã được chế biến thành các món thì cánh đàn ông
trong họ ngồi với nhau làm một trận rượu với chân và lòng mề gà.
Sau đó, có người về nhà mình ngủ, có người cứ thế mà nằm lăn ra
một góc nào đấy mà ngáy vì quá mệt và rượu say. Cỗ cưới quê tôi
không to nhưng có một món bắt buộc phải có. Đó là món xáo chuối.
Để làm món này, người ta luộc chuối tây xanh, bóc vỏ và giã
nhuyễn. Sau đó, người ta băm sườn lợn xào lên rồi trộn với chuối
đã giã cùng với mẻ chua và nấu một lần nữa và cho lá xương sống
thái nhỏ vào. Các món ăn được nâu một nơi. Nhưng cơm thì được
chia cho một số người thổi cơm giỏi đảm nhiệm. Những người này
mang gạo về nấu cơm ở nhà mình và đến giờ ăn cỗ thì lũ lượt gánh
cơm đến nhà chú rể.
Đón dâu ở nhà quê
thường chỉ đón vào buổi chiều. Đón dâu ở nhà quê lúc nào cũng
đông. Nếu cô dâu cùng làng thì đám rước dâu là ngày hội của trẻ
con. Trẻ con chạy đi chạy lại quấn chân người lớn. Nhiều lúc
chạy trước cô dâu chú rể. ở quê tôi, cách đây hơn chục năm, cô
dâu ngày cưới phải mặc quần lụa, áo cánh trắng và tay khoác
chiếc nón chuông. Chú rể thường là sơ mi trắng, quần tây mầu
xanh cổ vịt và đi dép nhựa Tiền Phong. Khi nghĩ lại ngày cưới
của mình tôi lại bật cười. Hồi đó, tôi mặc com-lê và đi giày
Xi-mông (tất cả những thứ này đều đi mượn). Giày Xi-mông là loại
giày mũi to, tròn, gót lại nhỏ và cao. Vợ tôi mặc áo dài và ôm
một bó hoa hồng có dây tết do nhà văn Thùy Linh (nhà ở làng Ngọc
Hà) lo cho. Thấy cách ăn mặc của tôi và bó hoa của cô dâu, những
người làng tôi cười ngặt nghẽo. Vào những năm 80 ấy, người ta
chẳng bao giờ mừng đám cưới bằng tiền. Người ta mừng nhiều thứ
quà khác nhau. Người mừng phích, người mừng ấm chén, người mừng
chậu thau. Bạn bè cô dâu chú rể thường mừng gối hoặc một vài đồ
dùng trẻ sơ sinh. Sau đám cưới của tôi, bố mẹ tôi chia cho anh
chị em trong nhà mỗi người một cái chậu. Số còn lại để dùng dần.
Lễ cưới ở quê tổ chức thường kéo dài vì tiết mục văn nghệ. Đây
giống như một hoạt động văn hóa của làng. Đội văn nghệ làng vừa
nhai trầu vừa hút thuốc lá và hát bất cứ bài hát gì mà họ thuộc.
Trong lễ cưới của tôi, các nhà thơ như Phạm Tiến Duật, Nguyễn
Duy, Anh Chi, Nguyễn Thành Phong... đều đọc thơ. Được đà, những
người nông dân làm thơ làng tôi thi nhau đọc thơ đông tây kim
cổ. Thế là lễ cưới trở thành buổi biểu diễn thơ nhạc kéo dài
chừng ba tiếng đồng hồ. Ngay đêm tân hôn, tôi còn tiếp tục nghe
nhà thơ Trương Trung Phát đến từ Thường Tín, Hà Tây đọc thơ đến
gần một giờ sáng.
Ngày sau lễ cưới là
ngày dỡ rạp. Đàn bà con gái chọn bát đĩa của nhà nào trả cho nhà
ấy. Các gia đình ở nhà quê thường đánh dấu bát đĩa nhà mình bằng
cách dùng nhựa đường hoặc sơn ta bôi vào chôn bát đĩa. Thế nhưng
vẫn có sự nhầm lẫn. Một số bát đĩa của nhà này lẫn vào bát đĩa
nhà khác. Thế là có những gia đình đi đòi đi trả bát đĩa của
nhau. Ngày xưa bát đĩa hiếm, nên nhiều người trong làng biết
được đĩa này của nhà cô Phấn, bát kia của ông Lâm hay mâm nọ của
nhà mẹ Nhỡ...
Một vài chuyện cưới
ở quê tôi kể trên những năm 80 của thế kỷ trước vẫn còn. Thế mà
chỉ loáng một cái nay đã thay đổi gần như chẳng còn gì nữa.
Nhiều làng quê, cưới thuê dựng rạp. Cánh kinh doanh ở thị trấn
hay ở một làng nào gần đó mang rạp đến và dựng lên rất chuyên
nghiệp. Đàn ông trong họ chỉ còn mỗi việc ngồi uống nước vặt và
giương mắt ếch ra nhìn. Nhiều nơi làm cỗ cũng thuê. Cỗ ở nhiều
làng bây giờ phải có chim quay, có bia chai và phải có giấy ăn
sức nước thơm nữa... Và bây giờ, tuyệt nhiên không còn ai mừng
phích, mừng chậu men. Tất cả đều thành tiền. Có gia đình mùa
cưới mang bán những thúng thóc cuối cùng để lấy tiền mừng đám
cưới. Hương vị những lễ cưới xưa đã như khói tan đi. Đối với cô
dâu chú rể bây giờ hạnh phúc trăm năm đâu chưa thấy mà thấy nỗi
lo thâm quầng mắt về tiền chuẩn bị cỗ cưới và tiền mừng có hòa
với tiền bỏ ra làm đám cưới không. Ngày trước trong đám cưới,
trẻ con vui lắm, cứ đến ào ào, chẳng cần phải là người trong họ
tộc gì cả, mỗi đứa chỉ cần một nắm xôi và một miếng thịt lợn
luộc là sung sướng đến cả khi đã ngủ. Ngày nay trẻ con không dám
đến vì cỗ làm đã có suất. Và ngày cưới là ngày nợ và trả nợ của
những người lớn.
Nguyễn Quang Thiều
|