| |
Các nhà giáo dục băn khoăn, loay hoay đi tìm một
phương pháp giáo dục trẻ em thật sự có hiệu quả trong
thời đại mà thông tin bùng nổ và kỹ thuật điện tử xâm
nhập đến từng mái trường, từng gia đình, đến từng trẻ em.
Làm sao có thể yên tâm với con em mình khi chúng hàng
ngày vòi vĩnh tiền bạc của cha mẹ để xúm xít bên những
trò chơi điện tử, những karaoke, hay vào những trang web
không hợp với lứa tuổi? Cũng như trước đây, ta đã từng
chứng kiến sự tràn ngập của khối vuông rubic lăn tròn
trên tay chẳng những ở trẻ em mà cả người lớn nữa. Ở
đây, ta không nói chuyện được - mất trong những trò chơi
đó. Nhưng có lẽ hầu như chúng ta đã lãng quên một phương
pháp giáo dục đầy hiệu quả mà chúng ta có sẵn: đó là kho
tàng đồng dao và trò chơi trẻ em. Riêng về lĩnh vực giáo
dục, kho tàng này cung cấp nội dung và phương pháp giáo
dục “không thầy, không sách” tương đối rõ ràng và đầy đủ
hơn cả.
Đồng dao bao gồm nhiều loại: Các bài hát, câu hát trẻ
em, lời hát trong các trò chơi, bài hát ru em... Trò
chơi cũng lắm, như trò chơi vận động (dung dăng dung dẻ,
chơi khăng, đánh đáo), trò chơi học tập (đánh chuyền,
đánh ô), trò chơi mô phỏng (đi chợ, làm nhà), trò chơi
sáng tạo (xếp thuyền, đánh trận, chơi diều). Cả kho tàng
phong phú ấy là phương tiện giáo dục trí, đức, thể, mỹ
cho các em. Qua đó phát triển tâm lý, thể lực, trí tuệ
trước mắt và nhân cách của các em trong tương lai.
Thật vậy, ông bà ta nhận thức rằng để giáo dục trẻ em
phải thông qua con đường tình cảm là hiệu quả nhất. Đầu
tiên là tình mẹ con tràn trề thấm thía qua những bài hát
ru "cục ta cục tác, con diều hâu
hung ác, gà con ở đâu, về mau mẹ ủ, mẹ con đông đủ,
chẳng sợ diều hâu" Rồi đến tình cảm với những
vật gần gũi: con gà, con chó, cái chổi, con dao... Trong
lời hát, truyền cho các em sự cảm thông nồng ấm. Dần dần,
rộng ra một chút, cho các em tiếp xúc với thiên nhiên
rộng lớn bên ngoài. Rồi không ai không buồn cười, thú vị
khi em bé đút hạt xôi vào miệng dế mèn hay kết những
cánh hoa thành áo cho cào cào:
"Cào cào giã gạo tao xem, tao may áo đỏ, áo đen cho mày.
"
Từ tình yêu với con sâu, cái kiến, khi các em lớn lên
vài tuổi, tiếp xúc, tham gia công việc đồng áng với
người lớn, các em yêu cả những con chim, con cò, con
trâu, con nghé... quanh mình. Các bài đồng dao Gọi mẹ,
Gọi nghé của trẻ mục đồng; đồng dao về chim, về lá, về
hoa quả... đều toát lên một tình cảm yêu thiên nhiên,
yêu lao động đậm đà bát ngát. Đồng dao cung cấp cho
các em kiến thức, không là kiến thức hệ thống như tư duy
người lớn mà là trình bày liệt kê, dừng lại ở những nét
bề ngoài dễ nhớ, dễ phân biệt, kích động trí tò mò ở trẻ
em. Đó là công dụng đồ vật: "Con
trâu cày xiên, cái liềm gặt lúa" phân biệt giống
vật Chàng chàng lót ổ bụi tre, chèo bẻo lót ổ mái
đình.Hay dạy cho các em chơi chữ, tập quan sát:
"No lòng phỉ dạ là con cá cơm,
không ướp mà thơm là con cá ngát, liệng bay thấm thoát
là con cá chim." Phải chăng đây là cách dạy từ
ngữ vui nhộn phù hợp với các em, làm các em nhớ đến tên
loài vật xung quanh mình? Chẳng những cung cấp kiến
thức tự nhiên, đồng dao còn là một kho kiến thức xã hội,
về hội hè, đình đám, trong họ ngoài làng, về đồ ăn, thức
uống: “Những nồi cơm nếp, những
tệp bánh chưng, mứt bí, mứt gừng, mứt chanh, mứt khế”.
Các em được chuẩn bị từ tuổi hoa niên những kiến thức về
nghề nghiệp trong xã hội sau này:
“Ông thầy có sách, thợ ngạnh có dao, thợ rèn có búa”
hay: “Ai cày ruộng nuôi trâu, ai
trồng dâu nuôi tằm, ai hay nằm nhịn đói”. Đồng
dao cũng dạy các em phê phán thói hư tật xấu, sự lười
nhác: “Cho đi học chữ- nhiều chữ
ai vay, cho đi học nghề- rằng nghề ở tớ, cho đi làm thợ-
nói: nghề ấy buồn”... Thậm chí, các em bé gái
được đồng dao trang bị cho kiến thức nữ công gia chánh
đặc biệt: “Bắt được cua bấy đem về
nấu canh, băm tỏi băm hành, xương sông lá lốt”,
hay “canh ốc thì ngọt, canh bứa
thì chua”. Đồng dao được các em hát trong lúc
tổ chức trò chơi. Nhiều khi lời đồng dao được hát, tổ
chức trò chơi dường như không có đề tài nào tập trung,
gặp đâu nói đó, chỉ cốt cho vần vè, còn ý nghĩ chung thì
rời rạc, câu nọ xọ câu kia, chuyện này sang chuyện khác.
Trẻ em vẫn thích thú vì nó phù hợp với trí lực của các
em, không thể đòi hỏi các em tư duy như người lớn được.
Đồng dao và trò chơi trẻ em được tiếp thu bằng ấn tượng
về ngoại vật chứ không phải bằng lý luận.
Có thể thấy việc học văn hóa cơ bản qua đồng dao và
trò chơi không dạy chữ, thế mà các em vẫn đếm, vẫn tính
nhẩm, cộng trừ từ “chuyền một”
đến “chuyền chuyền mười”,
từ “năm lên sáu” hay
“bốn lên bảy” trong trò
chơi chuyền chuyền... Trò chơi
“đánh ô ăn quan” dạy trẻ em tính nhẩm về chia,
trừ, quan sát chiều ngược, chiều xuôi để động não một
cách tự lực chỉ có bạn mà không có thầy. Thật là một
cách giáo dục có ý nghĩa. Trò chơi còn giáo dục thể
lực ở trẻ. “Đánh chuyền”
với động tác “nâng lấy một, chộp
lấy đôi, sang tay qua, ra tay chống” chẳng phải
có tác dụng luyện gân, các cơ ở cổ tay, cánh tay, khuỷu
tay cho bé gái sao? Trò “đánh
khăng” ít nhiều là môn thể thao là sự vận động
toàn diện kết thúc với chạy, nhảy, đuổi bắt, cõng nhau.
Còn bao trò chơi khác với cách thức luyện tập khác nữa.
Quan sát kỹ ta thường thấy các trò chơi thường lặp đi
lặp lại. Người lớn xem hay chơi có thể chán, nhưng với
trẻ em đó là một việc thú vị. Cùng cách chơi
“Đuổi bắt” nhưng được các
em biến hóa xê dịch trong nhiều trò chơi... Qua trò chơi,
các em được dịp rèn luyện mắt, chân tay, luyện thính
giác, khướu giác... Và sau cùng đồng dao và trò chơi
như những chất keo nối kết những tình bạn trong sáng,
ngây thơ giữa lũ trẻ với nhau mà ta khó tìm thấy trong
những trò chơi hiện đại ngày nay. Kho tàng đồng dao và
trò chơi trẻ em Việt Nam quả thật là những hình thức
giáo dục thiếu nhi, nhi đồng có hiệu quả. Tiếc rằng, với
cuộc sống hiện tại, nó dần mai một đi trong thực tế.
Chúng ta hiếm khi bắt gặp hình ảnh các em tụm năm tụm
bảy rồng rắn lên mây, bịt mắt bắt dê... vào những đêm
trăng sáng. Có đứa trẻ nào biết đến những bài đồng dao
phù hợp với mình? Nhà trường có giảng dạy đồng dao nhưng
đó chỉ trên lý thuyết, mà cũng thật ít ỏi làm sao!
Trần Xuân Toàn
http://e-cadao.com/tieuluan/Dongdaovatrochotreem.htm
|