| |
Ngày xưa, khi tôi còn là
một cậu bé, những ngày cuối năm áp Tết rậm rịch lắm. Cả
nhà chuẩn bị lá rong, gạo nếp trưước đó đến mấy ngày.
Rồi gói bánh, luộc bánh, thức suốt đêm, chờ ăn miếng
bánh chưưng đầu tiên. Giây phút ấy sướng lắm. Người bận
nhất nhà vào dịp Tết là mẹ tôi. Chiều 29 Tết, mẹ tôi
thường pha một thùng nước vôi, buộc ngọn chổi rơm gọn
lại, rồi bảo tôi ra quét vào các gốc cây. Tôi rất ngạc
nhiên. Mẹ tôi bảo: “Để sắm áo mới cho cây cối. Ngày Tết,
mình mặc áo mới, thì cây cối nó cũng được mặc áo mới
chứ!”. Thế là tôi ra vườn, lọ mọ quét nước vôi lên từng
gốc cây. Cây bưởi. Cây dừa. Cây cau. Cây na. Cây mít...
Sáng mùng một, đúng là ngày đầu năm mới, nước vôi đã
khô, cả khu vườn nhà tôi sáng rực lên, tưng bừng trong
màu trắng đồng phục của cây cối. Bữa cỗ tân xuân, mẹ tôi
cũng lại xẻ thức ăn ra, chia làm nhiều phần, phần nào
cũng có đầy đủ các món, xôi, chè, thịt, miến, dưa hành,
rồi bảo tôi mang ra cho gà lợn, chó mèo. Người ăn món gì
thì những con vật nuôi trong nhà cũng được ăn những thứ
ấy. Mẹ tôi bảo: “Mình có Tết, chúng nó cũng phải có Tết
chứ!”.
Một tối, mẹ tôi bảo tôi mang đèn ra vườn hái trầu,
nhớ vặn to ngọn đèn, để cây trầu nhận ra chủ, không phải
kẻ trộm. Trước khi hái, phải nói: "Trẩu trẩu trầu trầu -
Mày làm chúa tao - Tao làm chú mày - Tao không hái ngày
- Thì tao hái đêm - Tỉnh dậy cho tao hái". Mẹ tôi bảo,
ngày xưa, mẹ tôi hái trầu đêm, bà tôi cũng dặn thế.
Không nói như vậy, dàn trầu sẽ lụi. Tôi chẳng biết đấy
có phải là câu ca dao không, hay chỉ là câu vè mẹ chợt
nghĩ ra để dạy tôi.
Khi bà ngoại tôi mất, mẹ tôi xé chiếc khăn tang ra
thành hàng trăm mảnh nhỏ: "Con hãy ra đeo tang cho cây
cối đi, không cây nó héo lụi mất. Bà chết rồi. Con thấy
cây cối nó có buồn không?". Thế là tôi ra vườn, lọ mọ
đeo tang cho cây trầu, cây cau, cây na. Cả khu vườn nhà
tôi trắng xóa màu tang. Trong con mắt tôi, cây cối, trâu
bò, gà lợn, chó mèo cũng có niềm vui, nỗi buồn như những
con người.
Tình cảm ấy, tôi tiếp nhận được từ mẹ. Tiếp nhận rất
tự nhiên và nói ra trong những bài thơ đầu đời của mình
cũng rất tự nhiên. Lúc ấy, tôi hoàn toàn không biết đó
là thủ pháp nhân cách hóa trong nghệ thuật. Mẹ tôi cũng
không có ý định dạy tôi làm nghệ thuật. Vì bà cụ chưa
từng được cắp sách đến lớp ngày nào.
Mãi đến sau này, tôi mới hiểu được mẹ tôi. Đó là khi
các anh chị tôi có con. Mẹ tôi dặn: “Chúng mày phải dạy
trẻ con yêu thiên nhiên, yêu cây cối và các con vật
trong nhà. Một đứa trẻ bẻ ngọn cây non mới trồng, bắn
chết con chim đang bay, hay ném gẫy chân con gà, con chó
thì rồi sau này lớn lên, chúng nó cũng sẽ làm điều ác
đối với con người...”. Mấy chục năm qua rồi, những bài
học đầu đời ấy của mẹ tôi đối với tôi vẫn còn rất thấm
thía. Năm nay, bà mẹ tôi ngoài 80 tuổi, lưng đã còng
gập, nhưng bà cụ vẫn ở quê với cây cối, vườn tược, lợn
gà, sống bằng tiền trợ cấp của con cái, chủ yếu là của
tôi và anh cả tôi. Các con đều có nhà cao cửa rộng ở
thành phố cả. Nhưng mẹ tôi không ra ở phố. Bà cụ không
chịu nổi sự ồn ào, phồn tạp của phố phưường. Cụ bảo:
“Tao sinh ra ở đây, sống ở đây thì cũng chết ở đây
thôi”. Mẹ tôi không ra phố, mà mấy anh em tôi cũng chẳng
có ai về ở quê được, nên bà chị gái tôi phải trụ lại quê
để chăm sóc bố mẹ già.
Dù bận bịu công việc đến đâu, tháng nào tôi cũng về
quê. Rồi Tết nào cũng về ăn Tết với bố mẹ. Có lần, chiều
29 Tết tôi về, cây cối trong khu vườn nhà tôi đã trắng
xóa một màu đồng phục Tết như năm nảo năm nào. Tôi ngạc
nhiên quá, vì nhà tôi không còn trẻ con nữa. Các cháu
nội ngoại của bố mẹ tôi cũng đều đi học xa, rồi cũng
theo nhau ra thành phố ở cả. Mẹ tôi cười: “Mẹ quét hôm
qua đấy. Quét thế cho cái vườn nó ấm. Như các con vẫn
còn bé tí, vẫn lăng xăng ríu rít ở nhà...”. Trần
Đăng Khoa
|