|
Tết Nguyên đán là tết tổ
tông truyền, rất quý rất cần những cảm xúc hồi cố, nhớ
lại nếp xưa mà bâng khuâng với hồn dân tộc. Bài viết này
muốn tìm về những đổi thay, những phong tục tết nay
không còn nữa hoặc đã biến đổi nhiều.
Thủa bé tôi đeo chiếc khánh vàng
Quần đào xé đũng, áo hàng lam
Chân đi hài đỏ, tay thu pháo
Chú bé đầu thế kỷ 20 đón tết trong thơ Lan Sơn (tên
thật Nguyễn Đức Phòng sinh năm 1912) ăn mặc tưng bừng
mầu sắc vàng đào lam đỏ như thế. Bài thơ viết đầu nhũng
năm 30 mà đã là ký ức rồi, người viết đã thở dài nuối
tiếc nhớ thương rồi: Rượu hả hơi rồi hết vị men. Con
người bao giờ chả ru mình bằng ký ức. Ngôi nhà xưa cấp
bốn cũ nát bao giờ cũng tích chứa yêu thương nhưng không
phải vì thế mà người ta thích quay về ở lại đâu. Tâm lý
con người là thế và có thế mới đáng yêu. Chúng ta sống
lại trong hồn nét xưa một đi không trở lại để mường
tượng bóng dáng cha ông, để khấn vào trời đất như Vũ
Đình Liên xưa đã khấn: Hồn ở đâu bây giờ.
Mang hương vị Tết đậm đà nhất là những cái tết ở quê
hương. Đậm đà vì, đối với phần đông người Việt, nó là
Tết của tuổi ấu thơ. Hơn nữa, nông thôn là nơi trầm lắng
sâu đậm nhất những tập tục cổ truyền. Phiên chợ tất niên
ở miền quê nào cũng chộn rộn nao nức, nhà thơ Đoàn Văn
Cừ lưu lại trong văn chương phiên chợ Tết vùng quê Nam
Định đầu thế kỷ thứ 20. Bút pháp hiện thực của thơ hồi
ấy (1939) đã đủ sức cạnh tranh với phim tài liệu bây
giờ. Cảnh đi chợ, họp chợ rồi chợ tan rất thật, sinh
động, hóm hỉnh, lại gợi được cả linh hồn của làng mạc,
cư dân. .Đọc thơ mà như được sống lại trong làng xưa tết
cũ:
Anh hàng tranh kĩu kịt quẩy đôi bồ
Tìm đến chỗ đông người ngồi giở bán
Một thày khóa gò lưng trên cánh phản,
Tay mài nghiên hí hoáy viết thơ xuân.
Cụ đồ Nho dừng lại vuốt râu cằm
Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ
Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ,
Nước thời gian gội tóc trăng phau phau.
Một đoạn liền hai mươi ba câu, câu nào cũng sắc sảo
như những câu vừa trích, quả đã thành một bảo tàng ký ức
về hương vị Tết xa xưa. Không khí phiên chợ tết này đủ
sức làm giàu tâm hồn chúng ta cả hương vị truyền thống
lẫn tình cảm dân tộc. Trước Đoàn Văn Cừ nửa thế kỷ,
khoảng cuối thế kỷ 19, cụ Nguyễn Khuyến, trong một cái
Tết tha hương cũng đã từng lưu luyến không khí phiên chợ
tất niên ở quê nhà:
Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng
Năm nay chợ họp có đông không?
Ông cụ nhớ cái rét trong mưa bụi của đồng bằng Bắc
Bộ, nhớ cái tập tục nếm rượu của các bô lão trong làng
khi mua rượu để tế đình đêm giao thừa:
Gió giời mưa bụi còn hơi rét
Nếm rượu tường đền được mấy ông
Giọng thơ chân thật, chi tiết thân thuộc phiên chợ
của làng nghèo nhỏ nhoi, xao xác, nhưng nỗi nhớ Tết, nhớ
làng trong lòng người viết lại thật sâu đậm. Đấy là cái
tài lắng lọc tâm lý của cụ Tam nguyên làng Yên Đổ, đất
Bình Lục, Hà Nam.
Ông Tú Xương (1870-1905) chuẩn bị Tết cũng "đài các"
gớm. Có thì có hết mà rút cuộc chẳng có gì:
Rượu cúc nhắn đem, hàng biếng quẩy
Trà sen mượn hỏi giá còn kiêu
Bánh chưng sắp gói, e nồm cháy
Giò lụa toan làm, sợ nắng thiu
Nguyễn Bính (1918-1966), một nhà thơ thành Nam, viết
nhiều bài thơ Tết, bài này chỉ thoáng một nét người về
quê ăn Tết mà sức gợi rất ngân xa:
Có chiếc thuyền nằm trên cát mịn
Có đàn trâu trắng lội ngang sông
Có cô thợ ruộm về ăn tết
Sương gió đường xa rám má hồng
Thuở bé đọc bốn câu thơ này tôi cứ xao xuyến buồn mà
không hiểu tại sao. Phải chăng do nỗi phiêu bạt lầm lụi
của cô thợ nhuộm. Giờ đây những trai làng gái làng xa
quê kiếm sống ngày một nhiều, cũng "hoàn cảnh" lắm, câu
thơ cộng hưởng thêm với bao nhiêu số phận của người về
ăn Tết. Bài thơ trường thiên độc vận Xuân tha hương nói
nỗi lòng kẻ xa nhà lúc năm hết. Thơ mưng mưng nỗi buồn
lưu lạc bất dắc chí của Nguyễn Bính, hình ảnh rất đắt:
Cột nhà hàng xóm lên câu đối
Em đọc tương tư giữa giấy hồng
(...) Thiên hạ đua nhau mà sắm tết
Một mình em vẫn cứ tay không
(...) Chị ơi tết đến em mua rượu
Em uống cho say đến não nùng
Uống say cười vỡ ba gian gác
Ném cái chung tình xuống đáy sông
Đêm giao thừa là nơi được khá nhiều nhà thơ ký thác
nỗi niềm. Nguyễn Trãi:
Chong đèn chực tuổi cay con mắt
Đốt trúc khua na đắng lỗ tai
Thơ quốc âm thế kỷ thứ 15 có thể hơi lạ với ngôn ngữ
bây giờ. Qua giao thừa là chực tuổi mới. Thức khuya nên
cay mắt. Nhưng từ cay mắt mà dẫn đến đắng tai thì thật
tài. ý thơ nương tựa vào nhau mà biến hóa; đốt pháo trúc
xua tà ma (khua na) mà đắng lỗ tai. Lẽ ra là ù tai, inh
tai. Nhưng đắng tai là để chiếu vào chữ cay mắt ở trên.
Thêm một tuổi là thêm một lần thu cay đắng vào giác
quan. Cái đặc hiệu của phút giao nối năm mới năm cũ cũng
được Nguyễn Khuyến lưu ý: Nhất cứ liên niên hứng vị
cùng. Một câu thơ nối liền hai năm mà cái hứng chưa hết.
Đúng là thơ khai bút lúc giao thừa. Khai bút cũng là nét
đẹp của người chữ nghĩa thời xưa:
Rượu ngon nhất giọng đưa vài chén
Bút mới xô tay thử một hàng
Từ khi thơ được viết bằng chữ quốc ngữ, chất ước lệ
bớt đi. Chúng ta gặp nhiều nét đời thực. Tập tục ngày
nguyên đán được Nguyễn Bính lưu giữ khá đầy đủ qua lời
bà mẹ dặn các con; và thông qua sự quan sát của chú bé
còn chưa biết chữ:
Sáng ngày mồng một sớm tinh sương
Mẹ tôi cấm chúng tôi ra đường
Mở hàng mỗi đưa năm xu rưỡi
Rửa mặt hoa mùi, nước đượm hương
Thấy tôi lấy một tờ hoa tiên
Bút lông dầm mực viết lên trên
Trên những gì gì tôi chẳng biết
Giữa đề năm tháng dưới đề tên
Hơn nửa thế kỷ đã đi qua bài thơ này, những tập tục
ấy đã xa lăng lắc, những người trực tiếp mang kỷ niệm về
nó chắc chẳng còn mấy. Nhưng đọc lại những câu thơ sao
mà ấm dạ, thuở ấy, non nước nhà mình...
Đọc thơ Tết của nhiều thời, phong phú nhất là của
thời Thơ mới (1930-1945), thấy chộn rộn tưng bừng nhất,
xao xuyến bâng khuâng nhất vẫn là những bài thơ của
những ngày chuẩn bị Tết. Thơ viết về ngay mồng một Tết,
chủ yếu lại là thơ ghi việc chứ không nhiều tâm hồn. Đến
khi cái Tết đã đi qua, thơ lại bâng khuâng năm tháng, u
hoài như tiếng thở dài chấp nhận cõi nắng sương của đời
người.
Đào Tấn (1845-1907):
Khi cây nêu hạ xuống
Ngàn nỗi lo theo người
Nguyễn Bính:
Xong ba ngày tết mẹ tôi lại
Đầu tắt mặt tối nuôi chồng con
Đoàn Văn Cừ thì ngay khi tan phiên chợ tết đã buồn
rồi:
Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ
Nước ta thuở ấy chuyên làm ruộng, nghèo, niềm vui của
người dân quê chỉ ngắn ngủi trong mấy ngày Tết nhất. Bao
nhiêu ước vọng một năm giời dồn cả vào ngày tết Mong cho
đến tết ăn xôi với chè. Nữ sĩ Hằng Phương nhớ đôi guốc
mới hồi tuổi nhỏ, mẹ mua cho chỉ dám đi thử trên giường,
để đến Tết khai trương cho mới:
Mẹ ơi! Nhớ tết năm nào
Mẹ mua guốc mới ướm vào chân con
Con đi lếch thếch trên giường
Đợi ngày mồng một ra đường mới tinh
Nguyễn Khuyến thấy bà con náo nức chuẩn bị tết với
bao nhiêu trù liệu hy vọng mà xót xa:
Dăm ba ngày nữa tin xuân tới
Pháo nổ nhà ai một tiếng đùng
Đùng một tiếng pháo ngắn ngủi, thế là hết tết, là lại
đầu tắt mặt tối. Cái tâm lý ấy có lẽ là buồn thương nhất
cho những tết xưa. May sao, bây giờ cảm xúc ấy không còn
phổ biến nữa. Mức sống ngày thường được nâng lên, sự
chênh lệch với ngày tết càng thu ngắn lại là dấu hiệu
đáng mừng của đời sống xã hội, dẫu rằng có thể vì thế mà
không khí chộn rộn với bao nhiêu tập tục trang nghiêm
của Nguyên đán bị chuyển thành ký ức, phải đọc lại thơ
văn xưa mới tìm thấy lại. Vũ Quần Phương
|